Đài phát thanh Mễ Trì từng là trái tim của truyền thông cách mạng Việt Nam, nơi phát đi những thông điệp quan trọng trong thời kỳ chiến tranh. Qua ký ức của GS Nguyễn Văn Ngọ, chúng ta có thể khám phá lịch sử hình thành, vai trò chiến lược và những con người tâm huyết đã xây dựng nên một di sản kỹ thuật vĩ đại. Bài viết này sẽ tổng hợp toàn diện về hành trình của Đài phát thanh Mễ Trì, từ những ngày đầu thành lập đến những năm tháng kháng chiến và sự phát triển sau này.

Có thể bạn quan tâm: Trà Sữa Xiang Piao Piao: Đánh Giá Chi Tiết Thương Hiệu Uống Liền Hàng Đầu
Có thể bạn quan tâm: Review Nhà Hàng Ẩm Thực 316 Tân Sơn Nhì: Trải Nghiệm Ẩm Thực Vườn Đỉnh Cao
Tóm tắt về Đài phát thanh Mễ Trì
Đài phát thanh Mễ Trì là đài phát sóng được xây dựng từ năm 1956 với sự viện trợ của Liên Xô. Với công suất máy phát lớn (150 kW sóng trung và 50 kW sóng ngắn), đài này đóng vai trò phát thanh các chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ. Đây không chỉ là một công trình kỹ thuật tiên tiến mà còn là biểu tượng của sự kiên cường, nơi truyền tải tiếng nói của dân tộc ra thế giới. Qua bao năm tháng, di sản của Mễ Trì vẫn còn sống động trong hệ thống phát thanh hiện đại ngày nay.
Có thể bạn quan tâm: Top 5 Quán Ship Đồ Ăn Mang Về Tại Quận 3 Ngon Và Uy Tín Nhất
Lịch sử hình thành và ý nghĩa kỹ thuật
Nguồn gốc và quá trình xây dựng
Đài phát thanh Mễ Trì được xây dựng vào năm 1956, ngay sau khi cuộc Kháng chiến chống Pháp kết thúc, với sự viện trợ toàn diện từ Liên Xô. Đây là một trong những công trình trọng điểm trong ngành truyền thông Việt Nam thời kỳ đầu, đánh dấu bước phát triển vượt bậc về kỹ thuật phát thanh. Việc lựa chọn địa điểm Mễ Trì, thuộc huyện Từ Liêm (nay là quận Nam Từ Liêm), Hà Nội, được tính toán kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật và quân sự, nằm ở vị trí có thể phủ sóng rộng khắp miền Bắc và vươn ra quốc tế.
Quá trình xây dựng đài phát sóng Mễ Trì gắn liền với sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô, những người đã mang đến máy móc, thiết bị tiên tiến nhất thời đó. Máy phát sóng trung công suất 150 kW và máy phát sóng ngắn 50 kW là những thiết bị có công suất lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á những năm 1950, cho phép tín hiệu phát thanh được truyền đi xa, vượt qua rào cản địa lý và thời tiết. Bước sóng trung 297 mét (tần số 1010 kHz) không chỉ thuận lợi cho truyền sóng mà còn mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc: năm 1010 là năm Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, khẳng định sự gắn kết giữa truyền thông và cội nguồn dân tộc.
Công suất và tần số phát sóng
Về mặt kỹ thuật, Đài Mễ Trì được trang bị hệ thống máy phát công suất lớn, cho phép phát sóng ở cả băng tần trung (AM) và ngắn (SW). Máy phát sóng trung 150 kW cho phép tín hiệu phủ sóng ổn định trên toàn quốc, trong khi máy phát sóng ngắn 50 kW đảm nhiệm việc phát ra nước ngoài, đưa tiếng nói Việt Nam đến bạn bè quốc tế và cả đối phương trong thời chiến. Việc vận hành và bảo trì những máy phát cồng kềnh này đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề, những người phải làm việc trong môi trường khắc nghiệt với nhiệt độ cao, tiếng ồn và rủi ro điện cao thế.
Hệ thống anten và đường truyền cũng được thiết kế tỉ mỉ, với cột anten cao ngất ngưởng, có khả năng chịu được sự tấn công của thiên nhiên và con người. Như GS Nguyễn Văn Ngọ kể lại, hai cột anten sóng trung do Liên Xô xây dựng vẫn còn vững chãi sau hơn nửa thế kỷ, dù từng trải qua trận bom đạn khốc liệt. Điều này minh chứng cho chất lượng xây dựng và tầm nhìn kỹ thuật của các chuyên gia thời bấy giờ.
Có thể bạn quan tâm: Phúc Long Tôn Thất Đạm: Đánh Giá Chi Tiết Trải Nghiệm Ẩm Thực
Vai trò chiến lược trong thời kỳ kháng chiến
Phát thanh chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam
Trong những năm Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đài Mễ Trì trở thành cánh tay phải của Đài Tiếng nói Việt Nam, đảm nhận trọng trách phát sóng các chương trình quan trọng. Đây không chỉ là phương tiện đưa thông tin của Đảng, Chính phủ đến với đồng bào và chiến sĩ cả nước, mà còn là tiếng nói của một quốc gia với bạn bè quốc tế. Các bản tin, thông cáo, diễn văn, và cả những tác phẩm văn học, âm nhạc được phát đi từ Mễ Trì đã trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá, tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân trong cả nước.
Những câu hát như “Tiếng nói Đảng ta, tiếng nói Bác Hồ” hay “Khúc hát Điện Biên vẫn ấm từng khe cửa” đã trở thành giai điệu quen thuộc, được phát thanh từ Mễ Trì, khắc sâu vào tâm trí cả một thế hệ. Thậm chí, tín hiệu phát thanh từ Mễ Trì còn được nghe cả ở miền Nam, bất chấp sự cố ngăn cản của chính quyền cũ, và thậm chí cả binh sĩ Mỹ cũng từng lắng nghe để hiểu về ý chí của nhân dân Việt Nam.
Sự kiện ném bom và khả năng phục hồi
Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho tầm quan trọng chiến lược của Đài Mễ Trì là vụ ném bom của không lực Mỹ. Vào lúc 4 giờ 59 phút ngày 19 tháng 12 năm 1972, ba tốp máy bay B52 (được quân ta đánh số 527, 528, 529) đã rải một thảm bom hơn 200 quả xuống khu vực Mễ Trì, nhằm phá hủy trạm phát sóng chính. Sự tấn công dữ dội này gây ra thiệt hại nặng nề, nhưng chỉ sau 9 phút, tiếng nói của Đài Tiếng nói Việt Nam lại vang lên trên sóng phát thanh toàn quốc và quốc tế.
Thành công này là nhờ sự chuẩn bị khôn ngoan từ lâu trước của Đài Tiếng nói Việt Nam và sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa. Khi trạm phát sóng trung tại Mễ Trì bị phá hủy, hệ thống dự phòng đã được kích hoạt ngay lập tức, sử dụng sóng trung phát nhờ trên đài bạn. Hơn nữa, hệ thống sóng ngắn CK2, được thành lập từ tháng 8 năm 1964 tại hang Núi Vàng (xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ), đã tiếp tục phát chương trình Đài Mễ Trì đang dở dang, đảm bảo tính liên tục của thông tin. Sự kiện này cho thấy tầm nhìn chiến lược và khả năng thích ứng linh hoạt của đội ngũ kỹ thuật viên, những người đã xây dựng cả hệ thống dự phòng để đối phó với mọi tình huống.
Điều đáng kinh ngạc là hai cột anten sóng trung do Liên Xô xây dựng, dù trải qua trận bom rải thảm dày đặc, vẫn không hề hấn gì. Đến nay, sau hơn 50 năm, chúng vẫn lừng lững ở đó, đang phục vụ cho phát sóng FM trung ương. Đây không chỉ là minh chứng cho chất lượng xây dựng vượt thời gian, mà còn là biểu tượng của sự bền bỉ và giá trị lâu dài của di sản kỹ thuật.
Ký ức của GS Nguyễn Văn Ngọ: Một người thầy gắn bó
Mối duyên từ sớm
Mặc dù chỉ chính thức về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam công tác từ cuối năm 1976, nhưng từ năm 1958, GS Nguyễn Văn Ngọ – khi đó là Chủ nhiệm Bộ môn Vô tuyến điện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội – đã đưa sinh viên khóa 1 đến Đài phát sóng Mễ Trì phụ việc lắp đặt thiết bị và học tập. Mối duyên này bắt nguồn từ nhu cầu thực tế: Trường Đại học Bách khoa mới thành lập Bộ môn Vô tuyến điện, cơ sở thí nghiệm còn sơ sài, trong khi Đài Mễ Trì đã hoàn thành xây dựng cơ bản và đang vào giai đoạn lắp đặt thiết bị. Sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành đã tạo ra cơ hội vàng cho sinh viên được “học kết hợp với hành” những môn kỹ thuật điện, máy phát sóng vô tuyến điện công suất lớn, anten, truyền sóng.
GS Nguyễn Văn Ngọ trực tiếp dịch, thuyết minh về máy bằng tiếng Nga và giảng cho sinh viên. Công việc khá bận rộn vì trong một đài phát sóng công suất lớn, ngoài hệ cao tần còn nhiều hệ kỹ thuật khác như nguồn điện, hệ lọc và cấp gió, hệ tự động, hệ thông gió, hệ cáp dẫn chương trình… Cái nào cũng có một hệ chính và một hệ dự phòng rất phức tạp. Nhờ sự tham gia thực tập, sinh viên khóa 1 không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng đón nhận sự chỉ dẫn của các chuyên gia Liên Xô trong việc lắp đặt thiết bị.
Những kỷ niệm khó quên
Dù không phải là cán bộ chính thức của Đài Mễ Trì từ năm 1958 đến 1976, GS Nguyễn Văn Ngọ luôn được Lãnh đạo Cục Kỹ thuật Phát thanh mời đến tham gia ý kiến, xem xét các vấn đề kỹ thuật phát sinh, dù lớn hay nhỏ. Khoảng thời gian làm việc lâu dài cùng với những con người tại đài đã hằn sâu trong tâm trí ông. Ông cho biết, môi trường làm việc tại Đài Mễ Trì và Cục Kỹ thuật Phát thanh rất đặc biệt: những người ở đều yêu nghề, toàn tâm toàn ý vì công việc, không bon chen, chèn ép lẫn nhau, nên rất đoàn kết. Chính không khí đó đã giúp ông học hỏi được cách làm quản lý từ chính học trò cũ của mình, và sau này khi làm Vụ trưởng quản lý nhà nước cả ngành Phát thanh và Truyền hình trên toàn quốc, ông vững vàng nhờ những bài học từ thời kỳ này.
GS Nguyễn Văn Ngọ cũng nhớ như in những sự kiện đau lòng và đầy tự hào. Vào tháng 12 năm 1972, sau khi Mỹ ném bom, Đài Mễ Trì bị phá hủy nhưng chỉ 9 phút sau, tiếng nói Việt Nam lại vang lên. Đó là nhờ hệ thống dự phòng và sự phối hợp nhịp nhàng. Ông chia sẻ: “Ai đã vào làm việc ở Cục Kỹ thuật Phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam thì về sau dầu có chuyển đi công tác ở nơi đâu vẫn coi đấy là gia đình lớn của mình.”
Những con người kiên cường
Nguyễn Cung: Bậc thầy kỹ thuật và đạo đức
Một trong những nhân vật được GS Nguyễn Văn Ngọ ngưỡng mộ nhất là kỹ sư Nguyễn Cung. Xuất thân từ một cố nông, ông Cung theo học tại trường Kỹ nghệ Thực hành và làm việc ở Đài Vô tuyến điện Bạch Mai của Pháp. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng hai kỹ sư giỏi khác là Nguyễn Văn Tình và Ngô Thế Duông theo về Việt Bắc. Sau hòa bình 1954, ông Nguyễn Cung phụ trách kỹ thuật chính của Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi cùng chuyên gia Liên Xô xây dựng Đài Mễ Trì và sau này là Đài VN-1.
GS Nguyễn Văn Ngọ đánh giá ông Cung: “Về tuổi đời, tuổi nghề bác Cung là người anh cả của tôi, về kiến thức tổng hợp ngành Phát thanh và kinh nghiệm xây dựng các công trình lớn, bác là bậc thầy của tôi, còn về đạo đức và cách ứng xử trong cuộc đời tôi coi bác là thần tượng! Tất cả những điều bác làm đều vì lòng yêu nước yêu nghề, còn ngoài ra không màng bất cứ danh lợi gì. Lương bao nhiêu, cấp bậc gì, bác không bao giờ quan tâm, nhưng đã ủy thác cho bác công việc gì thì khó đến mấy, gian khổ đến mấy bác cũng nhận. Làm việc với chuyên gia Liên Xô thì bác tự học tiếng Nga, làm việc với chuyên gia Trung Quốc, bác tự học tiếng Trung, cả đời bác tự học trong công việc.”
Tấm gương của ông Nguyễn Cung cho thấy tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy với nghề, không màng đến danh lợi cá nhân. Đó là bài học quý giá cho mọi thế hệ kỹ sư và nhà báo.
Nguyễn Văn Sinh: Từ công nhân lên Cục trưởng
Một nhân vật điển hình khác tại Đài Mễ Trì là ông Nguyễn Văn Sinh. Xuất thân là một cố nông, ông xin vào làm công nhân ở Đài Mễ Trì, vừa làm việc vừa theo học bổ túc văn hóa. Sau khi học xong lớp 10, ông thi vào Đại học tại chức ngành Vô tuyến điện trường Đại học Bách khoa. Với sự nỗ lực không ngừng, ông tiến bộ dần, từ công nhân lên kỹ sư, rồi giữ chức Trưởng ca tại Đài Mễ Trì. Nhờ năng lực chuyên môn và tinh thần xung phong, ông đã cùng đồng nghiệp khắc phục nhanh chóng hậu quả bom đạn, khôi phục đường điện, nước, tín hiệu, dọn mặt bằng và xây dựng cơ bản. Thành tích này giúp ông được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc, rồi đề bạt lên Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phát thanh, và sau này là Cục trưởng.
GS Nguyễn Văn Ngọ kể một tình huống thú vị: Khi dự Hội nghị do Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam tổ chức, nghe giới thiệu có Kỹ sư Nguyễn Văn Sinh, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phát thanh, PGS Hoàng Sước (lúc đó là Phó Đài Mễ Trì) ngớ người, hỏi nhỏ: “Cậu Sinh này khi mình làm Phó Đài Mễ Trì xin vào làm công nhân, bây giờ lại là Cục trưởng à?”. GS Ngọ đáp vui: “Hơn 30 năm trước, ông là kỹ sư Phó Đài, bây giờ là PGS.TS, Phó Hiệu trưởng Đại học Bưu điện, thì công nhân của ông lên Cục trưởng cũng không có gì là lạ!”. Câu chuyện minh chứng cho xã hội Việt Nam thời kỳ đó, nơi tài năng và nỗ lực được đền đáp xứng đáng, bất kể xuất thân.
Di sản và bài học
Sự phát triển của hệ thống phát thanh Việt Nam
Sau những năm tháng huyền thoại của Mễ Trì, hệ thống phát thanh Việt Nam không ngừng phát triển. Vào cuối năm 1972, trước khi Mỹ ném bom, các chuyên gia Việt Nam và Liên Xô đã khảo sát, định vị địa điểm xây dựng một nhà máy phát sóng mới và lớn hơn tại thôn Lễ Khê, xã Xuân Sơn, huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội), cách Hà Nội 40km, cạnh hồ Suối Hai để có nguồn nước cung cấp ổn định. Đài này được đặt tên là VN-1, với công suất sóng trung 1200 kW (lớn nhất vùng Đông Nam Á, ngang với Đài Phát thanh Bắc Kinh). Toàn bộ dự án do Liên Xô viện trợ không hoàn lại.
Đài VN-1 chỉ mới được khánh thành vào năm 1980, nên sau vụ ném bom cuối năm 1972, Chính phủ Việt Nam phải nhờ các nước bạn giúp đỡ để sớm trang bị máy phát dự phòng, duy trì việc phủ sóng phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thêm các đài tiếp quản từ chính quyền cũ ở miền Nam, hệ thống phát thanh đủ sức đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.
Theo GS Nguyễn Văn Ngọ, sự phát triển của hệ thống phát thanh Việt Nam là một chuỗi thay thế: Năm 1960, Mễ Trì với công suất 150 kW là mạnh nhất Đông Nam Á. Đến năm 1980, nó phải dành vị trí đó cho đài VN-1 công suất 1500 kW. Rồi đến năm 1997, VN-1 nhường ngôi cho VN-2 với công suất sóng trung 3500 kW. Đầu thế kỷ 21, Mễ Trì chỉ còn là đài có công suất nhỏ nhất trong 12 đài phát sóng của Tiếng nói Việt Nam trên toàn quốc.
Tuy nhiên, cái vĩ đại của Mễ Trì không nằm ở công suất, mà ở việc nó đã đào tạo và trưởng thành nên một thế hệ kỹ sư, kỹ thuật viên giỏi. Như GS Ngọ khẳng định: “Tất cả đều do tay những kỹ sư đã trưởng thành lên từ Mễ Trì lắp đặt và điều chỉnh cả!” Những đài phát sóng và truyền hình xây dựng sau này, dù công suất lớn hơn, công nghệ hiện đại hơn, thậm chí đã hoàn toàn bán dẫn hóa, không còn dùng đèn điện tử chân không, vẫn dựa trên nền tảng kinh nghiệm và tay nghề được đúc từ Mễ Trì.
Bài học về tinh thần trách nhiệm và đoàn kết
Qua ký ức của GS Nguyễn Văn Ngọ, chúng ta rút ra những bài học quý giá. Trước hết là tinh thần yêu nghề và tận tụy. Các cán bộ, công nhân viên Đài Mễ Trì sống trong môi trường khắc nghiệt, xa dân cư, thiếu thốn về mọi mặt, trong đó có cả thức ăn và dịch vụ y tế. Họ phải làm cả công tác quản lý kỹ thuật, hành chính, và thậm chí kiêm luôn vai trò “trưởng thôn” trong khuôn viên đài. Dù vậy, họ không màng đến lương bổng, cấp bậc, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ.
Thứ hai là sự đoàn kết và tương thân tương ái. Không có sự cạnh tranh, đánh nhau, mà thay vào đó là sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. Điều đó tạo nên một tập thể gắn bó, có khả năng vượt qua mọi khó khăn.
Thứ ba là tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực. Sự hợp tác giữa trường Đại học Bách khoa và Đài Mễ Trì đã tạo ra một thế hệ kỹ sư vừa lý thuyết vừa thực hành, đủ năng lực đón nhận công nghệ từ các nước bạn và phát triển thành những chuyên gia hàng đầu.
Cuối cùng, là bài học về tầm nhìn chiến lược. Việc xây dựng hệ thống dự phòng, chuẩn bị từ sớm cho các tình huống khẩn cấp, đã giúp Đài Mễ Trì duy trì thông tin liên tục ngay cả trong những giờ phút khốc liệt nhất của chiến tranh. Điều này không chỉ áp dụng cho phát thanh mà còn cho mọi lĩnh vực kỹ thuật.
Trong bối cảnh chiến tranh, bên cạnh các chương trình chính trị, quân sự, đài phát thanh còn đóng góp vào việc phổ biến kiến thức nông nghiệp, y tế, và cả ẩm thực. Các bài hướng dẫn về chăn nuôi, trồng trọt, chế biến thực phẩm đã từng được phát thanh, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Di sản của Đài Mễ Trì, vì vậy, không chỉ là kỹ thuật mà còn là văn hóa, là sợi dây kết nối truyền thông với đời sống hàng ngày, trong đó có ẩm thực dân tộc.
Nếu bạn quan tâm đến văn hóa ẩm thực Việt Nam, hãy truy cập lofita.vn để khám phá thêm những câu chuyện và kiến thức về ẩm thực.
Kết luận
Đài phát thanh Mễ Trì là một phần không thể tách rời của lịch sử truyền thông Việt Nam. Từ những ngày đầu thành lập với sự viện trợ của Liên Xô, cho đến những năm tháng kháng chiến gian khổ, và sau này là sự phát triển của hệ thống phát thanh quốc gia, Mễ Trì đã khẳng định vị trí là một cột mốc vĩ đại. Qua ký ức của GS Nguyễn Văn Ngọ và nhiều người lính truyền thông, chúng ta thấy được không chỉ những công trình kỹ thuật vững chãi, mà còn cả tinh thần yêu nước, sự tận tụy với nghề, và tình đoàn kết keo sơn. Di sản của Mễ Trì vẫn còn sống động trong các đài phát sóng hiện đại ngày nay, và bài học về trách nhiệm, sáng tạo, và lòng yêu nghề sẽ mãi là ngọn đèn dẫn đường cho thế hệ trẻ trong lĩnh vực truyền thông và kỹ thuật. Đài phát thanh Mễ Trì không chỉ phát đi âm thanh, mà còn phát đi tinh thần, phát đi niềm tin và hy vọng cho cả dân tộc.